» Việc Chính phủ phê duyệt tổng hạn ngạch phát thải khí nhà kính giai đoạn thí điểm 2025 - 2026 đã chính thức đưa 51 cơ sở sản xuất xi măng vào gia đoạn thử nghiệm cơ chế kiểm soát phát thải gắn với thị trường carbon. Với tổng hạn ngạch 73.363.233 tấn CO₂ tđ năm 2025 và 80.277.575 tấn CO₂ tđ năm 2026, ngành xi măng trở thành một trong những lĩnh vực chịu tác động lớn trong lộ trình quản lý phát thải quốc gia.
Phân bổ hạn ngạch phát thải khí nhà kính cho 51 cơ sở sản xuất xi măng giai đoạn 2025 - 2026 đang là nội dung được doanh nghiệp trong ngành đặc biệt quan tâm. Việc xác định cụ thể hạn ngạch phát thải CO₂ tđ cho từng nhà máy không chỉ là yêu cầu tuân thủ quy định mới mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến chiến lược sản xuất, đầu tư công nghệ và năng lực cạnh tranh dài hạn của toàn ngành xi măng.
Ngày 9/2/2026, Phó Thủ tướng Trần Hồng Hà ký ban hành Quyết định số 263/QĐ-TTg phê duyệt tổng hạn ngạch phát thải khí nhà kính thí điểm cho năm 2025 - 2026. Tổng hạn ngạch được phân bổ cho 110 cơ sở thuộc 3 lĩnh vực có mức phát thải lớn gồm nhiệt điện, sản xuất sắt thép và sản xuất xi măng. Riêng lĩnh vực xi măng có 51 cơ sở tham gia thí điểm trong 2 năm 2025 và 2026.

Theo phụ lục kèm theo quyết định, tổng hạn ngạch phát thải của 51 cơ sở xi măng năm 2025 là 73.363.233 tấn CO₂ tđ. Năm 2026, tổng hạn ngạch được phân bổ là 80.277.575 tấn CO₂ tđ. Mức tăng tuyệt đối giữa 2 năm là 6.914.342 tấn CO₂ tđ, tương ứng 9,42%. So với tổng hạn ngạch 243.082.392 tấn CO₂ tđ của 3 lĩnh vực trong năm 2025, riêng xi măng chiếm khoảng 30,2%. Con số này phản ánh đặc thù phát thải cao của ngành do quá trình nung clinker và tiêu thụ năng lượng lớn trong sản xuất.
Phân bố 51 cơ sở cho thấy sự tập trung rõ rệt tại các địa phương có nguồn nguyên liệu đá vôi lớn và truyền thống sản xuất xi măng lâu năm. Ninh Bình là địa phương có số lượng cơ sở nhiều nhất với 8 nhà máy và cũng là khu vực có tổng hạn ngạch phát thải cao nhất. Nhà máy Xi măng Thành Thắng được phân bổ 6.853.859 tấn CO₂ tđ năm 2025 và 7.499.822 tấn CO₂ tđ năm 2026. Nhà máy Xi măng Xuân Thành được phân bổ 5.297.794 tấn CO₂ tđ năm 2025 và 5.797.101 tấn CO₂ tđ năm 2026. Các cơ sở khác như Vissai Ninh Bình, VICEM Bút Sơn và Duyên Hà đều có mức hạn ngạch từ trên 1 triệu đến hơn 2 triệu tấn CO₂ tđ mỗi năm, cho thấy quy mô sản xuất clinker lớn tại địa bàn này.
Thanh Hóa có 4 cơ sở với quy mô sản xuất lớn. Nhà máy Xi măng Long Sơn được phân bổ 8.511.370 tấn CO₂ tđ năm 2025 và 9.313.550 tấn CO₂ tđ năm 2026, là mức cao nhất trong 51 cơ sở. Xi măng Nghi Sơn 2 được phân bổ 3.875.392 tấn CO₂ tđ năm 2025 và 4.240.640 tấn CO₂ tđ năm 2026. VICEM Bỉm Sơn đạt 2.510.131 tấn CO₂ tđ năm 2025. Quy mô hạn ngạch tại Thanh Hóa phản ánh năng lực sản xuất lớn và vai trò quan trọng của khu vực này trong cung ứng cho thị trường xi măng trong nước và xuất khẩu.
Nghệ An có 4 cơ sở tham gia thí điểm. Nhà máy Xi măng Sông Lam 1 được phân bổ 4.681.235 tấn CO₂ tđ năm 2025 và 5.122.432 tấn CO₂ tđ năm 2026. VICEM Hoàng Mai được phân bổ 1.290.862 tấn CO₂ tđ năm 2025. Cụm sản xuất tại Nghệ An có công suất đáng kể, góp phần quan trọng vào nguồn cung xi măng tại khu vực Bắc Trung Bộ.
Quảng Ninh và Hải Phòng mỗi địa phương có 4 cơ sở. Tại Hải Phòng, nhà máy Xi măng Chinfon được phân bổ 2.907.941 tấn CO₂ tđ năm 2025 và 3.182.009 tấn CO₂ tđ năm 2026. VICEM Hoàng Thạch được phân bổ 2.701.207 tấn CO₂ tđ năm 2025. Tại Quảng Ninh, Xi măng Cẩm Phả được phân bổ 1.616.252 tấn CO₂ tđ năm 2025 và Xi măng Thăng Long được phân bổ 1.175.783 tấn CO₂ tđ năm 2025. Đây đều là các cơ sở quy mô lớn, gắn với sản xuất clinker và hoạt động xuất khẩu.
Các địa phương khác như Phú Thọ, Thái Nguyên, Lào Cai, Tuyên Quang, Lạng Sơn, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Đồng Nai, Tây Ninh và An Giang cũng có cơ sở được phân bổ hạn ngạch. Quy mô tại các nhà máy này dao động từ khoảng 100.000 đến trên 2 triệu tấn CO₂ tđ mỗi năm, phản ánh sự khác biệt rõ rệt về công suất và mức độ phát thải giữa các doanh nghiệp xi măng trong ngành.
Hạn ngạch phát thải khí nhà kính được xác định là giới hạn tối đa lượng khí nhà kính mà mỗi cơ sở được phép phát thải trong một khoảng thời gian nhất định. Các cơ sở có trách nhiệm tổ chức kiểm kê, báo cáo và bảo đảm không vượt mức được phân bổ. Trường hợp phát thải vượt hạn ngạch, doanh nghiệp phải mua bổ sung hạn ngạch hoặc tín chỉ carbon theo quy định. Nếu phát thải thấp hơn mức được cấp, phần dư có thể được giao dịch trên sàn carbon trong nước theo lộ trình của Chính phủ.
Giai đoạn 2025 - 2026 mang tính thí điểm nhưng yêu cầu thực hiện nghiêm túc, minh bạch và có cơ sở khoa học. Đây là bước chuẩn bị quan trọng trước khi cơ chế quản lý hạn ngạch phát thải được triển khai chính thức từ năm 2028. Đối với ngành xi măng, cơ chế hạn ngạch không chỉ đặt ra yêu cầu tuân thủ mà còn tạo động lực tái cấu trúc theo hướng phát thải thấp hơn và hiệu quả hơn. Doanh nghiệp có điều kiện rà soát lại cường độ phát thải trên từng tấn sản phẩm, đẩy mạnh sử dụng phụ gia khoáng, nhiên liệu thay thế, tối ưu hóa vận hành lò nung và hệ thống tận dụng nhiệt thải. Những đơn vị kiểm soát tốt phát thải ngay từ giai đoạn thí điểm sẽ có lợi thế khi thị trường carbon đi vào vận hành chính thức.
Việc 51 cơ sở sản xuất xi măng tham gia phân bổ hạn ngạch phát thải CO₂ tđ vì thế không chỉ là bước điều chỉnh về quản lý môi trường mà còn là nền tảng quan trọng để toàn ngành chuyển đổi theo hướng sản xuất xanh, nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên và tăng cường năng lực cạnh tranh bền vững trong giai đoạn phát triển mới.
Cem.Info



