» Ngành xi măng là “đối tượng chịu hạn ngạch”, thực chất là cơ sở sản xuất clinker, vì phát thải lớn nhất nằm ở công đoạn nung clinker, gồm phát thải do phân hủy đá vôi và phát thải do đốt nhiên liệu.
Theo Nghị định 119/2025/NĐ-CP sửa đổi Nghị định 06/2022/NĐ-CP, giai đoạn 2025 - 2026, các cơ sở được phân bổ hạn ngạch phát thải gồm nhà máy nhiệt điện, cơ sở sản xuất sắt thép và cơ sở sản xuất xi măng thuộc danh mục phải kiểm kê khí nhà kính. Bộ Nông nghiệp và Môi trường chủ trì, phối hợp với Bộ Công thương và Bộ Xây dựng để đề xuất, phân bổ hạn ngạch cho từng cơ sở.

Về nguyên tắc, hạn ngạch được xác định trên các cơ sở chính sau:
Thứ nhất là mức phát thải khí nhà kính trên một đơn vị sản phẩm. Với xi măng, đơn vị sản phẩm dùng trong phương pháp phân bổ là tấn clinker, không phải tấn xi măng thương phẩm. Nghị định nêu rõ, nhà máy nhiệt điện tính theo kWh điện, cơ sở sản xuất thép tính theo tấn thép thô, còn cơ sở sản xuất xi măng tính theo tấn clinker.
Thứ hai là sản lượng trung bình của cơ sở trong 3 năm liền trước. Theo phương pháp trong Phụ lục I, sản lượng bình quân của cơ sở được lấy theo các năm y-1, y-2, y-3; với ngành xi măng, đó là sản lượng clinker bình quân 3 năm.
Thứ ba là suất phát thải bình quân của lĩnh vực. Nghị định quy định biến B là lượng phát thải khí nhà kính trung bình trên một đơn vị sản phẩm của các cơ sở trong cùng lĩnh vực được phân bổ hạn ngạch. Nói dễ hiểu, Nhà nước không chỉ nhìn riêng từng nhà máy, mà lấy một mức chuẩn/bình quân ngành để làm nền phân bổ.
Thứ tư là hệ số điều chỉnh hạn ngạch. Hệ số này xét đến lộ trình giảm phát thải của cơ sở, trình độ công nghệ, năng lực tài chính, các hoạt động giảm phát thải đã thực hiện và mục tiêu giảm phát thải của lĩnh vực trong NDC của Việt Nam. Nghị định gọi đây là hệ số T, được xác định từ mục tiêu tăng trưởng của lĩnh vực và mục tiêu giảm phát thải của lĩnh vực/cơ sở.
Có thể mô tả công thức theo logic quản lý như sau:
Hạn ngạch của một nhà máy xi măng ≈ Sản lượng clinker bình quân 3 năm × Suất phát thải chuẩn/bình quân ngành × Hệ số điều chỉnh giảm phát thải
Trong đó, “suất phát thải” không chỉ là con số kỹ thuật khô khan. Nó phản ánh mức CO₂ phát ra để sản xuất một tấn clinker. Nhà máy càng tiết kiệm nhiệt, dùng nhiều nhiên liệu thay thế, dùng điện hiệu quả, giảm hệ số clinker trong xi măng, hoặc có WHR, co-processing, tối ưu phối liệu… thì vị thế khi so sánh phát thải, tính tín chỉ carbon càng có lợi thế.
Riêng giai đoạn thí điểm 2025 - 2026, Thủ tướng đã ban hành Quyết định 263/QĐ-TTg ngày 09/02/2026, phê duyệt tổng hạn ngạch phát thải thí điểm cho 110 cơ sở, gồm 34 nhà máy nhiệt điện, 25 cơ sở sắt thép và 51 cơ sở xi măng. Tổng hạn ngạch thí điểm là 243.082.392 tấn CO₂tđ năm 2025 và 268.391.454 tấn CO₂tđ năm 2026.
Về bản chất kỹ thuật, ngành xi măng bị quản lý theo clinker là hợp lý vì CO₂ trong xi măng chủ yếu phát sinh từ hai nguồn: phân hủy CaCO₃ trong đá vôi khi nung clinker và đốt nhiên liệu hóa thạch trong lò nung. IPCC cũng xác định CO₂ được phát thải như sản phẩm phụ của quá trình sản xuất clinker, trong đó CaCO₃ bị calcination thành CaO và giải phóng CO₂; ngoài ra còn có CO₂ từ đốt nhiên liệu hóa thạch.
Như vậy, hạn ngạch phát thải cho một nhà máy xi măng sẽ không chỉ phụ thuộc vào việc nhà máy sản xuất bao nhiêu xi măng, mà phụ thuộc mạnh hơn vào các yếu tố sau:

Điểm cần lưu ý là hạn ngạch không phải giấy phép phát thải vô điều kiện. Cơ sở được phân bổ hạn ngạch phải nộp trả hạn ngạch tối thiểu bằng kết quả kiểm kê phát thải trực tiếp trong giai đoạn được phân bổ, sau khi trừ lượng tín chỉ carbon được phép bù trừ. Nếu thiếu hạn ngạch, cơ sở có thể bị xử phạt và phần thiếu sẽ bị trừ vào hạn ngạch giai đoạn sau.
Như vậy đối với ngành xi măng Việt Nam, cơ sở phân bổ hạn ngạch cho các nhà máy sản xuất là:
- Lấy clinker làm đơn vị sản phẩm nền;
- Kiểm kê phát thải khí nhà kính làm dữ liệu gốc;
- Suất phát thải bình quân/ngành làm chuẩn;
- Sản lượng bình quân 3 năm làm quy mô;
- Mục tiêu giảm phát thải làm hệ số điều chỉnh.
Nói một cách dân dã, nhà máy nào “ngốn nhiều đá vôi, đốt nhiều than, nhả ra nhiều clinker” thì phải chuẩn bị sổ sách hồ sơ carbon kỹ hơn. Thời quản lý theo mỗi tấn xi măng bán ra đang chuyển dần sang thời quản lý theo mỗi tấn CO₂ được phép phát thải.
Cem.Info



