» Năm 2026, các chuyên gia dự báo ngành xi măng Việt Nam tiếp tục chịu tác động đan xen nhiều yếu tố có cả tích cực và tiêu cực. Chính phủ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thông qua việc Nhà nước tiếp tục triển khai các gói đầu tư hạ tầng lớn, thị trường bất động sản dần phục hồi và diễn biến cung - cầu giữa các khu vực kinh tế trong nước cũng như xuất khẩu. Dù nhu cầu tiêu thụ xi măng có xu hướng cải thiện, tình trạng dư cung vẫn lớn và áp lực cạnh tranh vẫn là những thách thức hiện hữu đối với toàn ngành.
Trong bối cảnh nền kinh tế duy trì mục tiêu tăng trưởng cao và ưu tiên phát triển các dự án hạ tầng giao thông trọng điểm, thị trường xi măng năm 2026 được kỳ vọng có thêm động lực từ đầu tư công và thị trường bất động sản. Tuy nhiên, những yếu tố bất lợi từ môi trường kinh doanh trong nước và quốc tế tiếp tục đặt ra yêu cầu thích ứng linh hoạt đối với các doanh nghiệp xi măng.

Tín hiệu thị trường tích cực
Quốc hội đã thông qua các chỉ tiêu kinh tế - xã hội chủ yếu cho năm 2026 với mục tiêu tăng trưởng GDP từ 10% trở lên, tỷ trọng công nghiệp chế biến chế tạo trong GDP đạt khoảng 24,96% và chỉ số giá tiêu dùng bình quân khoảng 4,5%. Định hướng này cho thấy ưu tiên thúc đẩy sản xuất công nghiệp, đầu tư xây dựng và phát triển hạ tầng, qua đó tạo dư địa cho nhu cầu tiêu thụ vật liệu xây dựng, trong đó có xi măng.
Chính phủ tiếp tục chính sách điều hành tập trung vào ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và tháo gỡ các điểm nghẽn về thể chế nhằm khơi thông nguồn lực cho phát triển. Việc thúc đẩy đổi mới mô hình tăng trưởng theo hướng công nghiệp hóa, ứng dụng khoa học công nghệ và chuyển đổi số được kỳ vọng cải thiện môi trường đầu tư sản xuất, qua đó hỗ trợ nhu cầu xây dựng trong trung và dài hạn.
Bên cạnh đó, thị trường bất động sản được dự báo có tín hiệu tích cực hơn trong năm 2026, song song với việc đẩy mạnh triển khai các dự án hạ tầng giao thông đô thị, giao thông liên vùng, sân bay, khu đô thị thương mại, nhà ở xã hội, cải tạo chung cư cũ, chỉnh trang sông ngòi kênh rạch và phát triển cảng biển. Đây tiếp tục là nhóm dự án tạo động lực chủ yếu cho nhu cầu tiêu thụ xi măng trong nước.
Trên thị trường xuất khẩu xi măng và clinker, nhu cầu nhập khẩu được đánh giá duy trì ổn định tại một số khu vực như Châu Phi, Trung Nam Mỹ, Philippines, Singapore và Malaysia nhờ nhu cầu phát triển hạ tầng. Cơ hội xuất khẩu phục vụ hoạt động tái thiết cơ sở hạ tầng tại Trung Đông, Nga, Campuchia… cũng được ghi nhận.
Những thách thức không nhỏ
Dù vậy, bối cảnh quốc tế vẫn tiềm ẩn nhiều yếu tố bất ổn. Xung đột quân sự, căng thẳng chính trị và xung đột thương mại giữa các nền kinh tế có xu hướng gia tăng trở lại, cùng với tác động ngày càng rõ nét của biến đổi khí hậu, thiên tai và thời tiết cực đoan. Những yếu tố này tiếp tục ảnh hưởng đến chuỗi cung ứng, chi phí sản xuất và tiến độ đầu tư xây dựng tại nhiều khu vực.
Đối với thị trường xi măng trong nước, áp lực dư cung vẫn là vấn đề lớn. Nguồn cung xi măng năm 2026 dự kiến đạt khoảng trên 130 triệu tấn (xi măng OPC, tương đương khoảng 150 triệu tấn xi măng PCB), tăng thêm khoảng 5 triệu tấn từ dự án Xi măng Hoàng Long 2 (công suất lò 8.000 tấn clinker/ngày tại tỉnh Phú Thọ) và Xi măng Bạch Đằng (công suất lò 4.000 tấn clinker/ngày tại TP. Hải Phòng). Trong khi đó, nhu cầu tiêu thụ xi măng trong nước được dự báo đạt khoảng 86 - 90 triệu tấn, tăng khoảng 12 - 15% so với năm 2025. Khoảng cách lớn giữa cung và cầu cho thấy thị trường tiếp tục vận hành trong trạng thái dư thừa.
Tăng trưởng nhu cầu chủ yếu đến từ các dự án đầu tư công và các công trình hạ tầng trọng điểm, cùng với một phần từ các dự án bất động sản tại khu vực vùng ven và các đô thị vệ tinh. Nhu cầu xây dựng dân dụng vẫn ở mức thấp do thu nhập người dân bị ảnh hưởng sau các đợt mưa bão và ngập lụt kéo dài trong 6 tháng cuối năm 2025, đây là các lĩnh vực tiêu thụ xi măng không nhiều, tiến độ kéo dài và sức thanh khoản thấp. Bên cạnh đó, giá nguyên liệu và nhiên liệu đầu vào cho sản xuất xi măng tiếp tục duy trì ở mức cao, trong khi cạnh tranh về giá bán giữa các doanh nghiệp chưa có dấu hiệu hạ nhiệt.
Giá xuất khẩu có xu hướng giảm tiếp tục ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh. Trung Quốc không còn nhập khẩu xi măng và clinker từ Việt Nam, thậm chí trong một số thời điểm còn xuất khẩu do dư thừa nguồn cung trong nước. Nhiều quốc gia tăng cường các biện pháp bảo hộ sản xuất xi măng nội địa thông qua thuế và rào cản kỹ thuật như thuế chống bán phá giá, thuế tự vệ, yêu cầu giấy phép nhập khẩu và các tiêu chuẩn nghiêm ngặt về môi trường, khí thải khi xuất khẩu sang Mỹ, Nam Phi và Châu Âu. Đồng thời, cạnh tranh từ các nguồn cung dư thừa tại Trung Đông, Pakistan, Indonesia và Thổ Nhĩ Kỳ… tiếp tục gia tăng.
Tổng thể, ngành xi măng Việt Nam trong năm 2026 được dự báo có sự cải thiện nhất định về nhu cầu nhưng vẫn chịu áp lực lớn từ tình trạng dư cung và cạnh tranh gay gắt. Đầu tư công và phát triển hạ tầng tiếp tục là động lực chính đối với tiêu thụ xi măng trong nước, trong khi xuất khẩu duy trì vai trò hỗ trợ nhưng khó tạo đột phá về sản lượng. Trong bối cảnh đó, các doanh nghiệp xi măng cần tập trung kiểm soát chi phí, nâng cao hiệu quả sản xuất và chủ động thích ứng với những biến động của thị trường trong và ngoài nước.
Cem.Info



