» Ngành xi măng Việt Nam đang đứng trước áp lực tái cấu trúc toàn diện khi dư cung kéo dài, cạnh tranh nội địa gay gắt và yêu cầu giảm phát thải ngày càng khắt khe. Theo PGS.TS Lương Đức Long, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Xi măng Việt Nam, chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo không còn là xu hướng mà là điều kiện để ngành tồn tại và phát triển bền vững.
Áp lực thị trường và yêu cầu môi trường đang đặt ngành xi măng trước một ngã rẽ quan trọng. Giá bán xi măng chịu sức ép giảm trong khi chi phí điện, than và nguyên liệu đầu vào liên tục tăng. Từ năm 2026, Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) của Liên minh châu Âu sẽ tạo thêm thách thức cho hoạt động xuất khẩu xi măng và clinker. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số được xác định là nền tảng để tối ưu chi phí, kiểm soát phát thải và nâng cao năng lực cạnh tranh.

Tối ưu công nghệ để giảm tiêu hao và phát thải
Theo PGS.TS Lương Đức Long, xi măng là ngành tiêu hao năng lượng lớn nên ứng dụng khoa học công nghệ là con đường tất yếu. Những năm gần đây, nhiều doanh nghiệp trong ngành xi măng đã đẩy mạnh đổi mới từ khai thác nguyên liệu đến vận hành lò nung và quản trị nhà máy.
Ở khâu khai thác, công nghệ tầng bậc và thiết kế mỏ tối ưu giúp giảm bụi và khí thải. Việc sử dụng tro bay, xỉ lò cao hạt hóa, bùn giấy và rác thải đã xử lý làm nguyên liệu và nhiên liệu thay thế vừa tiết kiệm chi phí vừa giảm áp lực môi trường.
Trong sản xuất, nhiều nhà máy xi măng chủ động đầu tư thiết bị nghiền hiệu suất cao, hệ thống lọc bụi hiện đại và phần mềm mô phỏng phối liệu. Đặc biệt, khoảng 65% nhà máy đã lắp đặt hệ thống tận dụng nhiệt khí thải để phát điện, cung cấp trên 30% nhu cầu điện nội bộ.
Ông cho rằng, việc số hóa vận hành thông qua các hệ thống DCS, SCADA, ERP, IoT và AI đã làm thay đổi cách quản lý nhà máy xi măng. Hệ thống dữ liệu thời gian thực giúp kiểm soát năng lượng, dự báo sản xuất và bảo trì thiết bị hiệu quả hơn. Đây là nền tảng để tiến tới mô hình nhà máy xi măng thông minh, xanh và bền vững.
Những con số cho thấy sự chuyển biến thực chất
Hiệu quả từ đổi mới công nghệ và chuyển đổi số được thể hiện rõ qua các chỉ số vận hành. Tiêu hao nhiệt nung clinker đã giảm từ trên 850 kcal/kg clinker năm 2015 xuống khoảng 817 kcal/kg clinker vào đầu năm 2025. Một số nhà máy tiên tiến đạt mức 730 kcal/kg clinker.
Tiêu hao điện sản xuất xi măng cũng giảm mạnh, từ 100 - 120 kWh/tấn xuống còn 80 - 95 kWh/tấn, nhiều đơn vị duy trì dưới 80 kWh/tấn. Tỷ lệ phát điện từ nhiệt khí thải đạt bình quân 30 - 35% nhu cầu điện nội bộ, góp phần giảm phụ thuộc vào lưới điện quốc gia.
Toàn ngành hiện có 100% nhà máy sử dụng phế thải công nghiệp làm nguyên liệu sản xuất. Có 16/61 nhà máy sử dụng rác thải làm nhiên liệu thay thế, trong đó có nhà máy đạt tỷ lệ 40% tính theo tổng nhiệt lượng.
Về môi trường, phát thải bụi được kiểm soát dưới 50 mg/Nm³, nhiều nhà máy đạt dưới mức 20 mg/Nm³. Theo lãnh đạo Hiệp hội, điều này cho thấy mô hình nhà máy trong công viên đang dần hình thành.
Chuyển đổi số cũng mang lại hiệu quả quản trị rõ rệt khi giúp giảm 8 - 10% chi phí quản lý, tăng năng suất lao động và giảm nhân lực trực tiếp vận hành xuống dưới 0,08 công lao động/tấn xi măng, có đơn vị đạt 0,032 công lao động/tấn xi măng. Việc kết nối dữ liệu với Cổng Dữ liệu quốc gia giúp cơ quan quản lý và doanh nghiệp có cái nhìn tổng thể để điều hành hiệu quả.
Chuyển đổi số là chiến lược sống còn giai đoạn tới
Dù đã đạt được nhiều kết quả tích cực, PGS.TS Lương Đức Long cho rằng, ngành xi măng vẫn đối mặt thách thức lớn do dư cung kéo dài và cạnh tranh nội địa gay gắt. Chi phí đầu vào tăng trong khi yêu cầu giảm phát thải và tuân thủ tiêu chuẩn môi trường ngày càng nghiêm ngặt.
Ông nhận định, từ nay đến năm 2030, ngành xi măng Việt Nam cần tiếp tục hiện đại hóa theo định hướng nhà máy thông minh, nâng tỷ lệ điện từ nhiệt khí thải toàn ngành lên 30 - 35%, từng bước áp dụng lò nung giàu oxy và tăng tỷ lệ sử dụng nhiên liệu thay thế nhằm giảm phát thải CO₂.
Các doanh nghiệp xi măng cũng cần chủ động tham gia các chương trình giảm phát thải carbon, xây dựng lộ trình trung hòa carbon phù hợp với định hướng quốc gia và đa dạng hóa thị trường xuất khẩu sang châu Á, châu Phi, châu Mỹ và Úc.
Theo ông, chỉ khi coi chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo là chiến lược dài hạn thay vì giải pháp ngắn hạn, ngành xi măng Việt Nam mới có thể nâng cao sức cạnh tranh, đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế và phát triển theo hướng xanh, bền vững.
Cem.Info



