» Nghị định 110/2026/NĐ-CP của Chính phủ có hiệu lực từ ngày 25/5/2026, quy định chi tiết trách nhiệm tái chế sản phẩm, bao bì và xử lý chất thải của nhà sản xuất, nhập khẩu (EPR). Theo đó, doanh nghiệp xi măng thuộc diện phải thực hiện tái chế bao bì theo tỷ lệ bắt buộc khi đưa sản phẩm ra thị trường.
Quy định về trách nhiệm tái chế sản phẩm và bao bì theo cơ chế EPR đang trở thành yêu cầu bắt buộc đối với doanh nghiệp sản xuất tại Việt Nam. Đối với ngành xi măng, nghĩa vụ này không áp trực tiếp lên sản phẩm nhưng lại đặt ra yêu cầu cụ thể đối với hoạt động tái chế bao bì, kéo theo những thay đổi đáng kể trong chi phí và tổ chức thực hiện.
Theo Nghị định 110/2026/NĐ-CP, các tổ chức, cá nhân sản xuất và nhập khẩu sản phẩm, bao bì thuộc danh mục quy định khi đưa ra thị trường Việt Nam phải thực hiện trách nhiệm tái chế theo tỷ lệ và quy cách bắt buộc. Quy định này có hiệu lực thi hành từ ngày 25/5/2026.

Trong danh mục áp dụng, bao bì thương phẩm của nhiều nhóm sản phẩm được đưa vào diện phải thực hiện trách nhiệm tái chế, trong đó có xi măng. Bao bì xi măng bao gồm cả bao bì trực tiếp và bao bì ngoài được xác định là đối tượng phải tuân thủ quy định về tái chế bao bì. Điều này đồng nghĩa với việc các doanh nghiệp xi măng phải tổ chức thu gom, tái chế hoặc thực hiện nghĩa vụ tài chính tương ứng với lượng bao bì đã đưa ra thị trường.
Nghị định cũng làm rõ trách nhiệm pháp lý trong các trường hợp cụ thể. Đối với sản phẩm có cùng nhãn hiệu được sản xuất tại nhiều cơ sở khác nhau, đơn vị chịu trách nhiệm về ghi nhãn hàng hóa là đối tượng thực hiện trách nhiệm tái chế. Trong trường hợp gia công, bên đặt gia công chịu trách nhiệm. Với hoạt động nhập khẩu theo hình thức ủy thác, tổ chức hoặc cá nhân đứng tên ghi nhãn hàng hóa là đơn vị phải thực hiện nghĩa vụ. Quy định này nhằm hạn chế tình trạng né tránh trách nhiệm trong chuỗi sản xuất và phân phối.
Về định mức tái chế, mặc dù xi măng không được tách thành một nhóm riêng trong danh mục sản phẩm, nhưng bao bì xi măng được xếp vào nhóm bao bì. Tùy theo vật liệu sử dụng, doanh nghiệp phải áp dụng tỷ lệ tái chế tương ứng trong hoạt động tái chế bao bì. Bao bì giấy hỗn hợp đa lớp có tỷ lệ tái chế khoảng 15%, trong khi bao bì nhựa mềm dạng dệt từ sợi như bao PP có tỷ lệ khoảng 10%. Đây là mức yêu cầu tối thiểu mà doanh nghiệp phải đáp ứng.
Một số trường hợp được miễn thực hiện trách nhiệm tái chế. Cụ thể, doanh nghiệp có tổng doanh thu từ các sản phẩm thuộc diện áp dụng dưới 30 tỷ đồng/năm sẽ không phải thực hiện nghĩa vụ này. Ngoài ra, các sản phẩm phục vụ xuất khẩu, tạm nhập tái xuất hoặc phục vụ mục đích nghiên cứu, học tập, thử nghiệm cũng thuộc diện miễn trừ. Trường hợp doanh nghiệp tự thu hồi và tái sử dụng bao bì với tỷ lệ đạt hoặc vượt mức yêu cầu thì cũng không phải thực hiện nghĩa vụ tái chế bổ sung.
Nghị định đồng thời đặt ra yêu cầu về quản lý và thực hiện nghĩa vụ. Các doanh nghiệp phải đăng ký kế hoạch tái chế hàng năm trước ngày 1/4, qua đó hình thành cơ chế theo dõi và kiểm soát lượng bao bì phát sinh trên thị trường. Điều này đòi hỏi doanh nghiệp xi măng phải xây dựng hệ thống quản trị dữ liệu và phương án thực hiện phù hợp ngay từ giai đoạn đầu.
Với đặc thù bao bì xi măng thường là bao giấy nhiều lớp hoặc bao nhựa dệt có lẫn bụi xi măng, việc thu gom và tái chế gặp nhiều khó khăn hơn so với các loại bao bì tiêu dùng thông thường. Chi phí thực hiện trách nhiệm tái chế vì vậy có thể cao hơn, tạo thêm áp lực đối với doanh nghiệp trong bối cảnh ngành xi măng vốn chịu tác động lớn từ chi phí năng lượng và nguyên liệu.
Việc triển khai cơ chế EPR không chỉ là yêu cầu tuân thủ pháp luật mà còn thúc đẩy ngành xi măng từng bước tham gia sâu hơn vào mô hình kinh tế tuần hoàn. Bao bì xi măng từ chỗ là chất thải sau sử dụng sẽ trở thành đối tượng cần được quản lý, thu hồi và tái chế, góp phần giảm áp lực môi trường và nâng cao trách nhiệm của doanh nghiệp trong toàn bộ vòng đời sản phẩm.



