Thông tin chuyên ngành Xi măng Việt Nam

Thị trường VLXD

Bất động sản suy yếu khiến thị trường VLXD trầm lắng

20/10/2022 1:57:02 PM

Trong những năm vừa qua, ngành sản xuất vật liệu xây dựng đã phát triển mạnh về số lượng, chất lượng và chủng loại, đáp ứng ngày càng cao nhu cầu về xây dựng kết cấu hạ tầng, phát triển đô thị và nhà ở. Vật liệu xây dựng được ví như "bánh mì" của ngành Xây dựng, Bất động sản. Do đó, khi thị trường bất động sản suy yếu, nhiều mặt hàng vật liệu xây dựng như sắt thép, xi măng, gạch... cũng bị ảnh hưởng theo.

Với việc giá cả tăng cao, các dự án hạ tầng lớn gặp khó, chậm tiến độ khiến thị trường vật liệu xây dựng đang có dấu hiệu chững lại. Tiêu thụ hàng hóa khó khăn, tồn kho tăng cao đang là vấn đề chung của các doanh nghiệp chuyên mua bán sắt, thép, gạch, đá hiện nay.

Theo số liệu từ Tổng Cục Thống kê, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng 9/2022 tăng 13% so với cùng kỳ năm trước, mức tăng khá cao kể từ đầu năm đến nay. Tuy nhiên, chỉ số tồn kho ở một số lĩnh vực vẫn tăng cao, điển hình là lĩnh vực vật liệu xây dựng.

Cụ thể, ở nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng, chi số nhóm này trong tháng 9 đã tăng 0,94% so với tháng trước và tăng 4,43% do với cùng kỳ năm 2021 do giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở và nhà ở thuê tăng. Bên cạnh đó, giá vật liệu sửa chữa nhà ở cũng tăng 0,07% do giá xi măng, gạch xây, gạch bê tông, tấm lợp, sơn tường tăng theo giá nguyên liệu đầu vào phục vụ cho sản xuất.
 

Tính từ đầu năm, giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 7,9% so với cùng kỳ năm trước do giá xi măng, sắt, thép, cát tăng theo giá nguyên nhiên vật liệu đầu vào. Trong đó, nhóm nguyên nhiên vật liệu dùng cho xây dựng, các sản phẩm gang, sắt thép, xi măng tăng 11,1% so với cùng kỳ năm 2021.

Đến cuối tháng 9/2022, lượng xi măng tiêu thụ đạt khoảng 7,6 triệu tấn, giảm khoảng 1,26 triệu tấn so với tháng 8 trước đó và giảm khoảng 15% so với cùng kỳ năm 2021. Trong đó, sản lượng xi măng tiêu thụ tại thị trường nội địa khoảng 5,4 triệu tấn; lượng xi măng xuất khẩu ước đạt khoảng 2,2 triệu tấn.

Kênh xuất khẩu suy yếu, bán hàng trong nước chậm do giá xi măng tăng cao dẫn đến tình trạng dư cung trầm trọng, đặc biệt tại khu vực miền Bắc. Hiện lượng tồn kho từ đầu năm đến nay gần 6 triệu tấn, tương đương khoảng 25 - 30 ngày sản xuất, chủ yếu là clinker.

Việc không tiêu thụ được sản phẩm khiến tình hình kinh doanh của nhiều doanh nghiệp sản xuất xi măng càng thêm khó khăn. Có thể sắp tới, một số nhà máy xi măng phải làm việc lại với nhà phân phối để giảm giá nhiều hơn nhằm giải phóng hàng tồn.

Tương tự, ngành Thép không khá hơn khi lượng hàng tồn kho tính đến ngày 31/6 của các doanh nghiệp thép niêm yết lên mức xấp xỉ 110.000 tỉ đồng khiến các khoản trích lập dự phòng trở thành nỗi lo lớn cho nhà đầu tư. Đây là mức tồn kho kỷ lục của ngành Thép từ trước tới nay, vượt xa đỉnh cũ hồi cuối quý 3 năm ngoái.

Lượng hàng tồn kho quá cao đã khiến các công ty thép buộc hạ giá bán nhằm kích cầu, khiến giá thép giảm mạnh trong thời gian qua.

Theo Hiệp hội Thép Việt Nam, tiêu thụ thép trong tháng 9/2022 gần 2 triệu tấn, giảm 7,2% so với tháng trước và giảm 10% so với cùng kỳ năm ngoái. Tính đến hết tháng 9, tồn kho của các nhà máy thép ở mức 1,6 triệu tấn trong bối cảnh tiêu thụ nội địa và xuất khẩu suy yếu.

Với các sản phẩm gốm sứ xây dựng, theo thống kê chưa đầy đủ của Hiệp hội Gốm sứ xây dựng Việt Nam, ước có trên 80 triệu m² gạch ốp lát các loại còn tồn tại các doanh nghiệp dù công suất chạy máy chỉ 50 - 55% so với công suất thiết kế.

Các mặt hàng gốm sứ khác cũng tồn kho khoảng 15 - 20%, đây là áp lực của thị trường gốm sứ xây dựng trong năm 2022, bởi không tiêu thụ được lượng tồn kho này sẽ ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của năm và sản phẩm càng để lâu thì càng tụt giá.

Năm 2022 là năm cực kỳ khó khăn của doanh nghiệp khi đầu ra thị trường vật liệu xây dựng hiện bị “chôn” theo thị trường bất động sản. Theo đó, không chỉ ở dòng vốn bị ứ đọng bằng hiện vật, tình trạng lãi suất vay rất cao cũng góp phần không nhỏ làm tình hình trở nên căng thẳng hơn bao giờ hết.

Mặc khác, giá xăng, dầu, than liên tục được điều chỉnh tăng từ đầu năm đã ảnh hưởng đến chi phí sản xuất, giá thành sản phẩm, từ đó đẩy giá hàng hóa tiêu dùng trong nước lên cao, tạo áp lực cho lạm phát. Theo đó, các đơn vị phân phối đã tìm nhiều giải pháp để giải quyết bài toán chi phí đầu vào bằng cách tăng giá bán. Tuy nhiên, điều này cũng gặp nhiều khó khăn trong bán hàng, đặc biệt là cạnh tranh về giá giữa các công ty sản xuất rất gay gắt.

Ghi nhận thực tế trên thị trường, từ đầu năm 2022 đến nay, giá các loại vật liệu xây dựng liên tục biến động, trong đó có nhiều mặt hàng thay đổi, cập nhật giá mới liên tục do những tác động từ thị trường. Đến nay, tình hình biến động tăng giá các mặt hàng này vẫn chưa có dấu hiệu dừng lại.

Trong bối cảnh thị trường giá vật liệu xây dựng, nhất là giá thép, xi măng, cát, đá xây dựng, gạch ốp lát... liên tục tăng kéo theo chi phí xây dựng các công trình nhà ở bị "đội giá", khiến nhiều người bị vỡ kế hoạch xây nhà.

Tình trạng tồn kho đang ảnh hưởng đến những doanh nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng, điều này đang được phản ánh cụ thể qua lợi nhuận của các doanh nghiệp giảm rõ rệt, thậm chí thua lỗ.

ximang.vn (TH)

 

Share |

Các tin khác:

Tiền Giang: Nguồn cung cát xây dựng thiếu hụt do không cấp phép khai thác ()

Thị trường thép trong nước kỳ vọng khởi sắc giai đoạn cuối năm ()

Hải Dương: Nhộn nhịp thị trường vật liệu xây dựng ()

Sản lượng khai thác và chế biến cát trắng silic và cát vàng chỉ đạt khoảng 30% công suất ()

Thị trường thép được dự báo sẽ sôi động trong 3 tháng cuối năm ()

Đắk Nông: Công trình "đội" vốn vì giá vật liệu tăng cao ()

Đà Nẵng: Thiếu hụt lao động trên các công trình xây dựng ()

Vật liệu xây dựng kém chất lượng tràn lan trên thị trường ()

Thực trạng sản xuất và định hướng phát triển ngành vật liệu xây dựng tại Việt Nam ()

Hải Phòng: Thời tiết thất thường làm khó thị trường vật liệu xây dựng ()

TIN MỚI

ĐỌC NHIỀU NHẤT

bannergiavlxd
faq

Bảng giá :

Chủng loại

ĐVT

Giá bán

Insee

1.000đ/tấn

1.800

Starcemt

1.000đ/tấn

1.760

Chifon

1.000đ/tấn

1.530

Hoàng Thạch

1.000đ/tấn

1.490

Bút Sơn

1.000đ/tấn

1.450

Chủng loại

ĐVT

Giá bán

Insee đa dụng

1.000đ/tấn

1.830

Kiên Giang

1.000đ/tấn

1.670

Vicem Hà Tiên

1.000đ/tấn

1.650

Tây Đô

1.000đ/tấn

1.553

Hà Tiên - Kiên Giang

1.000đ/tấn

1.440

Chủng loại

ĐVT

Giá bán

Xem bảng giá chi tiết hơn

Chủng loại

ĐVT

Giá bán

Hòa Phát

đồng/kg

18.940

Việt Ý

đồng/kg

18.890

Việt Đức

đồng/kg

18.880

Kyoei

đồng/kg

18.880

Việt Nhật

đồng/kg

18.820

Thái Nguyên

đồng/kg

19.390

Chủng loại

ĐVT

Giá bán

Hòa Phát

đồng/kg

19.040

Việt Ý

đồng/kg

18.990

Việt Đức

đồng/kg

19.180

Kyoei

đồng/kg

19.080

Việt Nhật

đồng/kg

18.920

Thái Nguyên

đồng/kg

19.540

Chủng loại

ĐVT

Giá bán

Hòa Phát

đồng/kg

18.890

Việt Ý

đồng/kg

18.840

Việt Đức

đồng/kg

18.830

Kyoei

đồng/kg

18.830

Việt Nhật

đồng/kg

18.770

Thái Nguyên

đồng/kg

19.340

Xem bảng giá chi tiết hơn

Vicem hướng tới công nghệ mới ngành Xi măng

Xem các video khác

Thăm dò ý kiến

Vì sao tiêu thụ xi măng, clinker giảm mạnh?