Thông tin chuyên ngành Xi măng Việt Nam

Bảo vệ môi trường

Ngành xi măng đứng đầu về sản lượng tiêu thụ điện năng trong các ngành công nghiệp

(19/12/2018 8:32:39 AM) Theo số liệu thống kế, hiện ngành xi măng đang đứng đầu về sản lượng tiêu thụ điện năng trong các ngành công nghiệp ở Việt Nam, đây là chia sẻ của ông Nguyễn Lanh, Viện Chiến lược Chính sách Tài nguyên Môi trường, Bộ TN&MT.

Hệ thống kiểm kê quốc gia khí nhà kính  ở Việt Nam tuân thủ theo quy định chung của quốc tế nên cách tính phát thải khí nhà kính là theo lĩnh vực chứ không theo ngành quản lý như xây dựng, nông nghiệp, công nghiệp, giao thông vận tải… Cách phân chia của Ủy ban Liên Chính phủ về Biến đổi khí hậu (IPCC) gồm 5 nhóm lĩnh vực: năng lượng, các quá trình công nghiệp, nông nghiệp, sử dụng đất/thay đổi sử dụng đất và lâm nghiệp (LULUCF) và chất thải.

Có thể thấy, các hoạt động thuộc nội dung quản lý của Bộ Xây dựng nằm rải rác trong hầu hết tất cả các nhóm ở các mức độ khác nhau, trừ nhóm nông nghiệp. Cụ thể như sau:

Lĩnh vực năng lượng (sử dụng năng lượng), thể hiện khá rõ trong các hoạt động sản xuất vật liệu xây dựng, xây dựng, các hoạt động vận tải liên quan và vận hành các tòa nhà công sở... chủ yếu liên quan tới sử dụng điện và nhiên liệu cho các hoạt động sản xuất và vận chuyển của ngành. Đây là lĩnh vực phát thải chủ yếu.

Các quá trình công nghiệp, ngành Xây dựng chủ yếu liên quan tới sản xuất xi măng, vôi - phát thải CO2 ở đây được tính từ quá trình phản ứng hóa học xảy ra (khi nung) để chuyển hóa các nguyên vật liệu đầu vào thành sản phẩm cuối (ví dụ: phản ứng chuyển hóa bùn phối liệu thành clinker trong sản xuất xi măng làm phát sinh CO2 bay ra, nói chung là từ đá vôi khi bị nung ở nhiệt độ cao: CaCO3 CaO + CO2). Ở đây không tính đến phát thải CO2 từ việc đốt nhiên liệu để nung (do đã tính ở phần năng lượng). Phát thải từ sản xuất xi măng ở Việt Nam cũng chiếm một tỷ lệ đáng kể và hoàn toàn thuộc ngành xây dựng.

Lĩnh vực LULUCF, ngành xây dựng đóng góp ở mức độ không nhiều, chủ yếu liên quan đến việc thu hồi đất để xây dựng các công trình (đất nông nghiệp, đất tự nhiên, đất rừng...), khai thác đá vôi, đất sét và một số khoáng chất khác làm thay đổi chức năng sử dụng đất. Lĩnh vực chất thải, do Bộ Xây dựng là bộ chủ quản việc xây dựng và quản lý các bãi rác đô thị nên cũng là ngành quản lý phần phát thải khí nhà kính  từ đây.


Hiện tại, không có số liệu tách riêng phát thải khí nhà kính cho từng ngành ở Việt Nam. Nếu cần có thể ước tính theo tỷ lệ từ các số liệu chung nhưng cần có thời gian để ước lượng mức độ trong từng lĩnh vực chính và tính toán, tổng hợp.

Tiêu thụ điện năng của ngành xi măng theo kết quả thống kê năng lượng đứng đầu trong các ngành công nghiệp ở Việt Nam (các ngành công nghiệp chính được tính đến chủ yếu gồm: sắt thép, hóa chất và dầu khí, xi măng và vật liệu xây dựng, thực phẩm và thuốc lá, dệt may và da giầy, sản xuất giấy và in...).

Theo số liệu thu thập từ thống kê năng lượng trong 2 năm liên tiếp 2013 và 2014, tiêu thụ năng lượng cho toàn bộ các ngành công nghiệp chính ở Việt Nam đã tăng từ 61.566 GWh lên 69.199 GWh nhưng mức tiêu thụ điện cho ngành sản xuất xi măng và vật liệu xây dựng vẫn giữ tỷ trọng hầu như không đổi, trong khoảng hơn 21%.

Bên cạnh đó, theo kết quả kiểm kê quốc gia khí nhà kính  mới nhất, một số nội dung chính liên quan tới ngành xây dựng như lượng phát thải tính theo CO2 tương đương (CO2tđ) thì ngành sản xuất xi măng cũng đang đứng đầu. Cụ thể, ngành sản xuất xi măng đang phát thải tổng cộng khoảng 36,6 triệu tấn CO2tđ từ việc đốt nhiên liệu để nung và lượng CO2 thoát ra từ phản ứng hóa học khi nung. Bên cạnh đó, sản xuất vật liệu xây dựng (khác) cũng gây phát thải khoảng 16 triệu tấn CO2tđ. Ngoài ra, sản xuất vôi cũng tạo ra mức phát thải khoảng 2,4 triệu tấn CO2tđ.

Trong lĩnh vực chất thải, phát thải từ nước thải sinh hoạt là khoảng 9,6 triệu tấn CO2tđ, các bãi chôn lấp chất thải rắn cũng gây phát thải khoảng 8 triệu tấn CO2tđ.

Việc thu thập số liệu phục vụ tính toán kiểm kê quốc gia khí nhà kính được yêu cầu phải dựa trên các số liệu thống kê chính thống và chắc chắn là có sai số. Do vậy, số liệu kiểm kê phát thải/hấp thụ khí nhà kính luôn được gọi bằng thuật ngữ là “Ước tính” (Trong văn bản quốc tế cũng dùng thuật ngữ tương đương là Estimation vì không bao giờ có thể có số liệu chính xác tuyệt đối). Hiện ở Việt Nam, có thể coi những số liệu được sử dụng cho ước tính phát thải khí nhà kính đã sử dụng những thông tin, số liệu ở mức tốt nhất có thể.

Số liệu chính xác nhất chỉ có thể thu thập từ việc tổng hợp các số liệu chi tiết của từng nhà máy và cho tất cả các hoạt động. Tuy nhiên như vậy cũng rất khó bóc tách các số liệu tiêu thụ nhiên liệu và năng lượng cho từng mục đích sử dụng trong các công ty (dân dụng, sản xuất…). Ngoài ra là đặc điểm, thành phần loại nguyên liệu sử dụng cho sản xuất... Do vậy, việc yêu cầu lấy số liệu chính xác tuyệt đối là không thực tế và ở tất cả các quốc gia thường chấp nhận một hệ số tỷ lệ (thuật ngữ chuyên ngành là Hệ số phát thải, tiếng Anh là Emission Factor, viết tắt là EF) để tính mức độ phát thải khí nhà kính theo số lượng của các hoạt động ghi nhận được (thuật ngữ chuyên môn tiếng Anh là Activity Data, viết tắt là AD), thường tính theo số lượng nhiên liệu và năng lượng tiêu thụ, số diện tích đất trồng lúa và các loại cây khác, sự thay đổi diện tích rừng, số lượng gia súc được nuôi...

ximang.vn (TH/ Xây dựng)

 

Share |

Các tin khác:

Xi măng Đồng Lâm trú trọng giải pháp giảm thiểu tác động đến môi trường ()

Tận dụng rác thải nhựa làm gạch sinh thái để xây nhà ()

Ấn Độ: Tái chế rác thải nhựa thành vật liệu xây dựng ()

Sở TN&MT Quảng Bình không đồng ý sử dụng hạt nix làm nguyên liệu sản xuất xi măng ()

Xây nhà bằng gạch từ phụ phẩm trong quá trình sản xuất cà phê ()

Việt Nam cần thúc đẩy nhanh việc sử dụng vật liệu xanh ()

Năm 2020: Việt Nam đặt mục tiêu chỉ còn khoảng 10% tỷ lệ rác chôn lấp ()

Hút bụi xi măng bằng hệ thống hút bụi xi măng tay áo ()

Vai trò của hệ thống hút bụi xi măng trong quá trình xử lý bụi ()

Bảo vệ môi trường từ sử dụng vật liệu xanh ()

Hà Nội

25°C

Đà Nẵng

25°C

TP.HCM

26°C

Bảng giá :

Chủng loại

ĐVT

Giá bán

Chinfon

1.000đ/tấn

1.580

Yên Bái

1.000đ/tấn

1.180

Tam Điệp

1.000đ/tấn

1.460

Chinfon

1.000đ/tấn

1.410

Bút Sơn

1.000đ/tấn

1.350

Chủng loại

ĐVT

Giá bán

Tuyên Quang

1.000đ/tấn

1.190

Hạ Long

1.000đ/tấn

1.360

Thăng Long

1.000đ/tấn

1.350

Cẩm Phả

1.000đ/tấn

1.300

Cẩm Phả

1.000đ/tấn

1.340

Chủng loại

ĐVT

Giá bán

Xem bảng giá chi tiết hơn

Chủng loại

ĐVT

Giá bán

Chủng loại

ĐVT

Giá bán

Chủng loại

ĐVT

Giá bán

Xem bảng giá chi tiết hơn

Tỷ giá

Giá vàng

Tỷ giá hối đoái
Mã ngoại tệ C.Khoản
Giá Vàng tại Việt Nam
Chủng loại Mua vào Bán ra
Đơn vị: VND    Nguồn trích dẫn: Sacombank