Bộ Tài chính vừa ban hành Thông tư số 149/2026/TT-BTC sửa đổi, bổ sung một số quy định về phí, lệ phí, trong đó quy định mức thu phí thẩm định đánh giá trữ lượng khoáng sản và lệ phí cấp giấy phép hoạt động khoáng sản.
Theo quy định được sửa đổi, phí thẩm định giấy phép khai thác khoáng sản làm nguyên liệu xi măng là 40 triệu đồng/giấy phép. Mức thu đối với các nhóm khoáng sản làm vật liệu xây dựng khác được xác định theo loại khoáng sản, diện tích, công suất và phương pháp khai thác.
Theo Điều 2 Thông tư số 149/2026/TT-BTC, Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung một số nội dung tại Thông tư số 10/2024/TT-BTC ngày 05/02/2024 quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí thẩm định đánh giá trữ lượng khoáng sản và lệ phí cấp giấy phép hoạt động khoáng sản.

Bộ Tài chính sửa đổi mức phí thẩm định giấy phép khai thác khoáng sản làm nguyên liệu xi măng là 40 triệu đồng/giấy phép.
Cụ thể, mức phí thẩm định đối với giấy phép khai thác khoáng sản làm nguyên liệu xi măng là 40 triệu đồng/giấy phép. Mức thu này cũng áp dụng đối với giấy phép khai thác khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường có sử dụng vật liệu nổ công nghiệp, đá ốp lát, nước khoáng thiên nhiên và nước nóng thiên nhiên.
Đối với giấy phép khai thác khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường không sử dụng vật liệu nổ công nghiệp, mức thu được xác định theo diện tích và công suất khai thác. Trường hợp diện tích dưới 10 ha và công suất khai thác dưới 100.000 m³/năm, mức phí là 15 triệu đồng/giấy phép.
Mức phí là 20 triệu đồng/giấy phép đối với trường hợp diện tích từ 10 ha trở lên và công suất dưới 100.000 m³/năm, hoặc diện tích dưới 10 ha và công suất từ 100.000 m³/năm trở lên. Mức thu này cũng áp dụng đối với giấy phép khai thác than bùn. Trường hợp diện tích từ 10 ha trở lên và công suất khai thác từ 100.000 m³/năm trở lên, mức phí là 30 triệu đồng/giấy phép.
Đối với giấy phép khai thác khoáng sản lộ thiên thuộc nhóm không có mức thu riêng tại các mục khác của biểu phí, phí thẩm định là 40 triệu đồng/giấy phép nếu không sử dụng vật liệu nổ công nghiệp và 50 triệu đồng/giấy phép nếu có sử dụng vật liệu nổ công nghiệp. Mức phí đối với giấy phép khai thác khoáng sản theo phương pháp hầm lò, thuộc nhóm không có mức thu riêng tại biểu phí, là 60 triệu đồng/giấy phép.
Đối với giấy phép khai thác khoáng sản chiến lược đặc biệt, khoáng sản độc hại, mức phí thẩm định là 100 triệu đồng/giấy phép.
Thông tư cũng quy định phí thẩm định giấy phép khai thác cát, sỏi lòng suối theo công suất khai thác. Cụ thể, mức thu là 1 triệu đồng/giấy phép đối với công suất dưới 5.000 m³/năm; 10 triệu đồng/giấy phép đối với công suất từ 5.000 m³/năm đến 10.000 m³/năm và 15 triệu đồng/giấy phép đối với công suất trên 10.000 m³/năm. Phí thẩm định giấy phép khai thác tận thu khoáng sản là 5 triệu đồng/giấy phép.
Đối với trường hợp gia hạn, cấp lại, điều chỉnh giấy phép thăm dò khoáng sản; gia hạn, cấp lại, điều chỉnh, cấp đổi giấy phép khai thác khoáng sản; gia hạn, điều chỉnh giấy phép khai thác tận thu khoáng sản hoặc cấp giấy phép khi chuyển nhượng quyền thăm dò, quyền khai thác và quyền khai thác tận thu khoáng sản, mức thu bằng 50% mức phí tương ứng theo quy định.
Bên cạnh việc điều chỉnh biểu phí, Thông tư sửa đổi quy định về khai, nộp và quyết toán phí, lệ phí. Theo đó, tổ chức thu phí, lệ phí nộp 100% số tiền thu được vào ngân sách nhà nước. Kinh phí phục vụ hoạt động cung cấp dịch vụ và thu phí, lệ phí được ngân sách nhà nước bố trí trong dự toán của tổ chức thu theo quy định.
Thông tư số 149/2026/TT-BTC có hiệu lực từ ngày 23/11/2026.
Nguồn tham khảo: CTT Chính phủ.
Cem.Info



