Thông tin chuyên ngành Xi măng Việt Nam

Chân dung

Doanh nghiệp VLXD vẫn chờ thị trường bất động sản

29/09/2014 11:23:14 AM

Không thể phủ nhận, thời gian gần đây, nền kinh tế trong nước đã có những tín hiệu khả quan, cùng với đó là sự ấm lên của thị trường bất động sản đã có những tác động tích cực tới các doanh nghiệp vật liệu xây dựng (VLXD).

Tín hiệu tích cực

Từ đầu năm đến nay, nhìn chung tình hình sản xuất, tiêu thụ của các doanh nghiệp ngành VLXD đã có nhiều dấu hiệu khả quan do sức mua đã có sự chuyển biến, tăng nhẹ so với trước.

Đơn cử như mặt hàng xi măng, theo Vụ Vật liệu xây dựng (Bộ Xây dựng), 8 tháng đầu năm 2014 lượng xi măng tiêu thụ là 42,53 triệu tấn, bằng 108% so với cùng kỳ (trong đó tiêu thụ nội địa ước đạt 32,85 triệu tấn, bằng 107% và xuất khẩu đạt 9,68 triệu tấn, bằng 109% so với cùng kỳ). Dấu hiệu này cho thấy sự phục hồi của nền kinh tế, sự ấm lên của thị trường bất động sản đang dần tác động tích cực đến thị trường VLXD giúp các doanh nghiệp tăng sản lượng tiêu thụ, giảm tồn kho.

Trao đổi với ông Nguyễn Văn Sưa, Phó chủ tịch Hiệp hội Thép Việt Nam cho biết, 8 tháng đầu năm 2014, sản xuất, tiêu thụ thép của các doanh nghiệp thuộc Hiệp hội có tăng trưởng tương đối khá so với 2013. Cụ thể phân khúc thép xây dựng tăng trưởng lên mức 9% so với năm 2013. Một số phân khúc khác như tôn mạ màu tăng trưởng lên mức 30%, ống thép tăng hơn 20%... Tổng hợp toàn bộ ngành thép tăng trưởng khoảng 13-14%. Đây là một con số tương đối ấn tượng. 

Ông Nguyễn Quang Minh, đại diện Công ty sản xuất thép Úc, một doanh nghiệp chuyên sản xuất thép xây dựng, cho biết, hiện nay lượng sản phẩm bán ra đã tăng hơn, kéo theo doanh thu tăng lên so với năm trước. Từ đầu năm đến nay doanh nghiệp đã tiêu thụ được khoảng 190 ngàn tấn, trong khi đó con số này cùng kỳ năm 2013 là 170 ngàn tấn.


Sức nóng của nền kinh tế hiện nay chưa đủ để vực dậy thị trường VLXD vốn đã nguội lạnh trong thời gian dài.

Cùng chung nhận định trên, ông Nguyễn Bá Kiểm, chủ doanh nghiệp tư nhân chuyên sản xuất VLXD (Hoàng Mai, Hà Nội) cho biết, từ đầu năm đến nay, các đại lý VLXD nói chung trong đó các đại lý truyền thống của doanh nghiệp đều tăng lượng nhập hàng.

Không nên chủ quan

thị trường VLXD đã có những tín hiệu tích cực nhưng nhiều ý kiến cho rằng các doanh nghiệp VLXD không nên chủ quan, vẫn còn không ít khó khăn khi thị trường bất động sản được đánh giá chưa phục hồi hoàn toàn.

Theo ông Đào Hữu Hoài, hiện nhà giá rẻ đang khởi sắc, nhưng khi các nhà đầu tư có động thái tăng giá hoặc thay đổi cơ cấu bán hàng là thị trường sẽ chậm lại, sẽ lại ảnh hưởng đến tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp VLXD.

Doanh nghiệp VLXD hiện nay được chia thành 2 nhóm, nhóm doanh nghiệp vật liệu thiết yếu như xi măng, thép, đá... sẽ có khả năng tiếp cận thị trường bất động sản sớm khi thị trường ấm lại, trong khi nhóm doanh nghiệp vật liệu hoàn thiện thường có độ trễ so với nhóm trên khoảng 1-2 năm.

VLXD là ngành phụ thuộc nhiều vào thị trường bất động sản nên việc thị trường này chưa thực sự sôi động trở lại là trở ngại lớn nhất đối với các doanh nghiệp VLXD.

Bên cạnh đó, các doanh nghiệp VLXD trong nước còn phải đối mặt với việc giá vật liệu tăng do chi phí đầu vào cao, phải cạnh tranh với các sản phẩm nhập khẩu giá rẻ tràn vào thị trường nội địa một cách ồ ạt. Theo đánh giá, năm nay vẫn là một năm đầy khó khăn cho ngành VLXD. Nhìn chung nhu cầu tiêu thụ VLXD vẫn ở mức thấp, bên cạnh đó hàng của Trung Quốc cạnh tranh cũng gây ra những khó khăn cho các doanh nghiệp.

Ông Trương Quốc Huy, Tổng Giám đốc Công ty Xi măng Hoàng Mai cho biết, thị trường bất động sản ấm lên sẽ tác động tốt đến tình hình của các doanh nghiệp VLXD ở những khu vực xây dựng phát triển sôi động. Hiện nay thị trường tiêu thụ sản phẩm của Công ty chủ yếu tiêu thụ ở khu vực miền Trung như Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, là khu vực thị trường bất động sản ít sôi động, nên thời gian qua tình hình sản xuất tiêu thụ của Công ty tăng không đáng kể.

Theo ông Nguyễn Văn Sưa nhận định, mức tăng trưởng do các yếu tố trong nước cũng chỉ ở mức độ nhất định. Tăng trưởng của ngành thép năm nay chủ yếu do xuất khẩu được một lượng tương đối lớn. Năm 2013 ngành thép đã xuất khẩu 2,5 triệu tấn thép. 8 tháng đầu năm nay, theo ước tính lượng xuất khẩu đạt khoảng hơn 3 triệu tấn.

Để thực sự thoát khỏi khó khăn và tăng trưởng ổn định, lâu dài, các doanh nghiệp cần chú trọng xây dựng chiến lược tiêu thụ sản phẩm như xuất khẩu, nâng cao chất lượng, hạ giá thành... Bên cạnh đó, Nhà nước cần có nhiều chính sách hỗ trợ doanh nghiệp, hỗ trợ thị trường bất động sản một cách hiệu quả nhằm tạo đầu ra chắc chắn cho các doanh nghiệp VLXD.

Quỳnh Trang (TH/ Hải quan)

 

Share |

Các tin khác:

Thanh Hóa làm tốt vai trò quản lý lĩnh vực khai thác VLXD ()

Doanh nghiệp sản xuất tấm lợp đã có lộ trình chuyển đổi sản xuất ()

Xi măng Bỉm Sơn tích cực cải thiện môi trường làm việc cho người lao động ()

Viglacera: 8 tháng đầu năm LNTT đạt 65,6% kế hoạch ()

HT1: Lợi nhuận vẫn ở mức thấp so với quy mô vốn ()

Tập đoàn Mahaphant mở rộng kinh doanh tại thị trường Việt Nam ()

BCC: Đánh giá lại khoản vay dài hạn 64,6 triệu EUR ()

Quý II: Thép Pomina giảm lỗ đáng kể ()

Doanh nghiệp VLXD đang để mất dần thị phần trong nước ()

Đông Khê: Đơn vị tiên phong sản xuất gạch không nung ()

TIN MỚI

ĐỌC NHIỀU NHẤT

bannergiavlxd
faq

Bảng giá :

Chủng loại

ĐVT

Giá bán

Insee

1.000đ/tấn

1.800

Starcemt

1.000đ/tấn

1.760

Chifon

1.000đ/tấn

1.530

Hoàng Thạch

1.000đ/tấn

1.490

Bút Sơn

1.000đ/tấn

1.450

Chủng loại

ĐVT

Giá bán

Insee đa dụng

1.000đ/tấn

1.830

Kiên Giang

1.000đ/tấn

1.670

Vicem Hà Tiên

1.000đ/tấn

1.650

Tây Đô

1.000đ/tấn

1.553

Hà Tiên - Kiên Giang

1.000đ/tấn

1.440

Chủng loại

ĐVT

Giá bán

Xem bảng giá chi tiết hơn

Chủng loại

ĐVT

Giá bán

Hòa Phát

đồng/kg

18.940

Việt Ý

đồng/kg

18.890

Việt Đức

đồng/kg

18.880

Kyoei

đồng/kg

18.880

Việt Nhật

đồng/kg

18.820

Thái Nguyên

đồng/kg

19.390

Chủng loại

ĐVT

Giá bán

Hòa Phát

đồng/kg

19.040

Việt Ý

đồng/kg

18.990

Việt Đức

đồng/kg

19.180

Kyoei

đồng/kg

19.080

Việt Nhật

đồng/kg

18.920

Thái Nguyên

đồng/kg

19.540

Chủng loại

ĐVT

Giá bán

Hòa Phát

đồng/kg

18.890

Việt Ý

đồng/kg

18.840

Việt Đức

đồng/kg

18.830

Kyoei

đồng/kg

18.830

Việt Nhật

đồng/kg

18.770

Thái Nguyên

đồng/kg

19.340

Xem bảng giá chi tiết hơn

Vicem hướng tới công nghệ mới ngành Xi măng

Xem các video khác

Thăm dò ý kiến

Theo bạn, giá xi măng bình quân năm 2022 sẽ diễn biến như thế nào?