Thông tin chuyên ngành Xi măng Việt Nam

Công nghệ sản xuất

Những nghiên cứu mới nhất về phát triển cường độ sớm và cường độ muộn trong bê tông (P4)

(12/11/2018 11:08:50 AM) (ximang.vn) Liên quan tới các đặc tính kỹ thuật của bê tông chất lượng cao được sử dụng cho các kết cấu, công trình xây dựng, vấn đề phát triển cường độ sớm và cường độ muộn trong bê tông (đặc biệt là sự phát triển tạo ra cường độ 28 ngày tuổi của bê tông mà là tiêu chí chung được áp dụng cho đo kiểm tra chất lượng xi măng) luôn được các nhà nghiên cứu và người sử dụng đặc biệt quan tâm. 



Mới đây, tác giả đã đánh giá chi tiết hơn kích thước tinh thể alite và belite trong clinker bằng cách đo kiểm tra một số tinh thể được lựa chọn ngẫu nhiên trên phần được đánh bóng và vẽ đồ thị phân bố kích thước cuối cùng. Một số kết quả đạt được từ mỗi loại tinh thể được chỉ ra ở các Hình 4-2 và 6-2.


Hình 4-2 cho thấy sự phân bố kích thước các tinh thể belite trong clinker. Có một tập hợp với peak nằm trong khoảng tử 15 - 17 µm. Như là một dải tập hợp các kích thước, đây là dạng điển hình của các tinh thể belite hình thành trong zôn nung tương đối ngắn. Tập hợp thứ hai trong mẫu phân bố 21 này có peak năm trong khoảng từ 25 - 27 µm. Kích thước của phần lớn các tinh thể belite trong clinker thường phụ thuộc vào chiều dài của zôn nung, vì belite trải qua một loạt các chuyển đổi pha khi nó nóng lên trong lò. Hầu hết các belite phát triền chỉ tới vài micromet và bạch cầu đa hình phát triển lớn nhất cũng chỉ hình thành ở nhiệt độ >1425°C. Sự hình thành belite ở dạng các tinh thể thô do sự hình thành một hỗn hợp ơ-tec-tic (cùng tinh) di chuyển vào trong vôi xốp mịn và tạo thành các tinh thể lớn không phải là chế độ kết tinh chuẩn. Dải kích thước peak thô hơn ở Hình 4-2 nằm ngoài các kích thước thường phát hiện thấy trong các lò có zôn nung ngắn vừa phải. Hình 5-2 cho thấy một khối tinh thể belite điển hình mà đã tạo thành các tinh thể xấp xỉ dải kích thước này ở vị trí hạt silicat thô. Các tinh thể belite lớn nhất màu nâu trong phần đánh giá này có tiết diện ngang khoảng 40 µm.


Hình 6-2 cho thấy sự phân bố kích thước các tinh thể alite từ mẫu clinker tương tự. Trong khi peak chính nằm trong khoảng từ 23 - 28 µm, thì một phần peak thứ hai nằm trong khoảng từ 31 - 34 µm có thể cho thấy sự chuyển hóa các tinh thể belite thô hơn sang alite.


Đối với ảnh hưởng tiềm ẩn của sự có mặt các tinh thể thô do sử dụng các hạt silicat thô trong liệu cấp lò, Hình 7-2 sử dụng cơ sở dữ liệu tương tự như đã sử dụng trong các Hình 1-2 và 2-2 để so sánh lượng sót sảng 45 µm với cường độ bê tông đạt được trong cùng giai đoạn. Kết quả thu được, mặc dù không thật chính xác, cho thấy sự tương xứng giữa lượng sót sàng 45 µm chứa axit không hòa tan trong liệu cấp và hiệu quả cuối cùng khi xi măng được sử dụng trong bê tông.

Trong thực tế, đã phát hiện thấy rằng mức độ chấp nhận được đối với phần sót sàng chứa axit không hòa tan trong liệu cấp thay đổi theo vị trí, và Jackson đã đưa ra con số là 2%. Một hệ số quan trọng trong clinker là Hệ số bão hòa vôi (LSF) và hàm lượng C3S khả dĩ. Đối với clinker có LSF thấp, tỷ lệ belite cao hơn là cần thiết để không cần phải tạo ra nhiều belite thô nếu không cần nung quá để đạt được mức C3S vừa phải. Trong trường hợp nghiên cứu ở đây, LSF của clinker đạt trung bình là 99%, vì vậy dự kiến hàm lượng C3S là cao. Phần sót sàng chứa axit không hòa tan trong các trường hợp đạt 3,4% mà sẽ báo hiệu là có vấn đề, nhưng mức trung bình chung là 1,98%. Từ điều này cho thấy rằng việc thu thập một số kết quả đo lường theo thời gian có thể đã hoàn toàn bỏ qua vấn đề này và nó chỉ là phép đo lường chính xác hàng ngày phần sót sàng mà đã cho thấy mức độ ảnh hưởng tới cường độ bê tông.
(Hết)
 
Quỳnh Trang (Theo TTKHKT Xi măng)

 

Share |

Các tin khác:

Những nghiên cứu mới nhất về phát triển cường độ sớm và cường độ muộn trong bê tông (P3) ()

Những nghiên cứu mới nhất về phát triển cường độ sớm và cường độ muộn trong bê tông (P2) ()

Những nghiên cứu mới nhất về phát triển cường độ sớm và cường độ muộn trong bê tông (P1) ()

Quy trình sản xuất và công dụng của xi măng trong xây dựng ()

Các loại vòi đốt tiên tiến nhất và những quan điểm thiết kế vòi đốt tối ưu mới (P5) ()

Các loại vòi đốt tiên tiến nhất và những quan điểm thiết kế vòi đốt tối ưu mới (P4) ()

Các loại vòi đốt tiên tiến nhất và những quan điểm thiết kế vòi đốt tối ưu mới (P3) ()

Các loại vòi đốt tiên tiến nhất và những quan điểm thiết kế vòi đốt tối ưu mới (P2) ()

Các loại vòi đốt tiên tiến nhất và những quan điểm thiết kế vòi đốt tối ưu mới (P1) ()

Ứng dụng công nghệ SNCR và SCR trong công nghiệp sản xuất xi măng (P2) ()

Hà Nội

14°C

Đà Nẵng

19°C

TP.HCM

25°C

Bảng giá :

Chủng loại

ĐVT

Giá bán

Lạng Sơn

1.000đ/tấn

900

Cosevco 11

1.000đ/tấn

1.100

Phú Thọ

1.000đ/tấn

950

Tuyên Quang

1.000đ/tấn

1.090

Hoàng Thạch

1.000đ/tấn

1.400

Chủng loại

ĐVT

Giá bán

Cao Ngạn

1.000đ/tấn

950

Tuyên Quang

1.000đ/tấn

1.130

Hạ Long

1.000đ/tấn

1.360

Thăng Long

1.000đ/tấn

1.350

Cẩm Phả

1.000đ/tấn

1.300

Chủng loại

ĐVT

Giá bán

Xem bảng giá chi tiết hơn

Chủng loại

ĐVT

Giá bán

Chủng loại

ĐVT

Giá bán

Chủng loại

ĐVT

Giá bán

Xem bảng giá chi tiết hơn

Tỷ giá

Giá vàng

Tỷ giá hối đoái
Mã ngoại tệ C.Khoản
Giá Vàng tại Việt Nam
Chủng loại Mua vào Bán ra
Đơn vị: VND    Nguồn trích dẫn: Sacombank